Chương trình TV

Ricky Gervais: Mèo hoang đô thị trên Netflix trông như phim hoạt hình mèo tục tĩu — thực ra là After Life

Martha Lucas

Một con mèo không biết xấu hổ. Đó chính là quyền tự do mà Ricky Gervais tìm kiếm bấy lâu. Suốt ba mùa, After Life dựng hài kịch quanh một người đàn ông góa vợ nói ra sự thật tàn nhẫn nhất vì nỗi đau đã thiêu rụi phép lịch sự trong ông. Nay ông trao chính thôi thúc ấy cho một bầy mèo hoang vốn chẳng có phép lịch sự nào để mất.

YouTube video

Ricky Gervais: Mèo hoang đô thị là một phim hài hoạt hình cho người lớn với tiền đề nhỏ đến mức đánh lừa. Một đàn mèo hoang thuộc mọi tầng lớp cùng chia nhau một đoạn vỉa hè, giữa những trận ẩu đả thì cãi nhau về thức ăn, tình dục, thứ bậc và cái chết. Gervais lồng tiếng cho Gus và dẫn dắt cả bầy. Hãng phim Anh Blink Industries vẽ mọi thứ bằng nét 2D phẳng, xơ xác, không có sự dễ thương nào làm bình phong; khẩu hiệu quảng bá bộ phim, „Nine lives, zero fucks“, đã báo trước giọng điệu ngay từ đầu.

Lớp da thú làm được điều mà người đóng không làm nổi. Một con mèo có thể nói thẳng nỗi hằn học giai cấp, sự cô đơn và nỗi sợ chết trần trụi mà những con người ở Tambury chỉ dám lượn quanh. Trong After Life, mỗi câu thoại tàn nhẫn đều khiến Tony phải trả giá, vì một người đang chịu tang thì bị phán xét. Với một con mèo hoang thì chẳng mất gì: Gervais đã tháo bỏ hai cái phanh — sự xấu hổ và hậu quả xã hội — vốn ngăn hài kịch của ông đâm thẳng vào chủ đề.

Dàn lồng tiếng chính là luận điểm, không phải chú thích. Nhiều diễn viên từng tạo nên chất liệu cho After Life trở lại đây dưới lốt mèo. Kerry Godliman, người vợ mà những đoạn ghi hình của cô đã gắn kết cả loạt phim ấy, lồng tiếng cho Lara; Diane Morgan, một Kath lạnh tanh, hóa thành Olive; David Earl và Tony Way bổ sung cho đàn mèo, cùng Tom Basden, Andrew Brooke, Jo Hartley và Natalie Cassidy. Đây là những diễn viên đã thuộc nằm lòng câu thoại kiểu Gervais — câu bật ra như một trò đùa rồi hóa dịu dàng ở nhịp cuối. Hoạt hình không làm nhạt đi tài năng ấy: nó gỡ bỏ tấm lọc cuối cùng mà một gương mặt người áp đặt.

Tiền đề làm việc nhiều hơn khẩu hiệu thừa nhận. Netflix mô tả bầy mèo là những con „thuộc mọi tầng lớp xã hội“, và cả đàn hoạt động như một tấm bản đồ hài hước của một đất nước không ngừng tranh cãi ai thuộc về đâu. Ở đây chẳng ai có việc làm hay khoản vay để nấp sau; chỉ còn lại những thói ra vẻ để chọc thủng, và bộ phim chọc thủng chúng không ngơi nghỉ.

Tin thật sự nằm ở việc đổi phương tiện. Sau khi khai thác cạn cùng một mạch — tang tóc, sự tàn nhẫn, phẩm giá sống sót qua cả hai — trong phim người đóng, Gervais chuyển nó sang hoạt hình, và sang mảng hoạt hình người lớn mà Netflix gây dựng nhiều năm nay. Hài kịch về loài vật biết nói có một cột sống Anh quốc dài lâu, từ Creature Comforts của Aardman đến nỗi u sầu bên dưới BoJack Horseman. Mèo hoang đô thị đứng vào truyền thống ấy mà vẫn giữ dấu ấn riêng: mở màn thô tục, chốt lại buồn bã.

Ricky Gervais Alley Cats
Alley Cats. (L to R) Tom Basden as Ponce, Diane Morgan as Olive, in Alley Cats. Cr. Courtesy of Netflix © 2026

Còn lại câu hỏi mà bộ phim được dựng nên để né tránh. Nếu lũ mèo chỉ tục tĩu, đó là phim hoạt hình về những con thú chửi thề. Nếu sự tục tĩu là cách nói về nỗi cô đơn và thời gian đang cạn, thì tiếng cười làm đúng điều nó luôn làm trong phim Gervais: che đậy thứ mà không ai quanh bàn muốn gọi tên. Trò đùa đang bảo vệ khán giả khỏi điều gì?

Ricky Gervais: Mèo hoang đô thị lên Netflix ngày 7 tháng 8 năm 2026, ra mắt toàn cầu trong một đợt duy nhất gồm sáu tập, mỗi tập khoảng mười lăm phút. Đây là một dự án Anh do Gervais sáng tạo và chấp bút, đồng thời lồng tiếng cho Gus và đồng đạo diễn với Elliot Dear; phần hoạt hình do Blink Industries thực hiện. Netflix đã chiếu hai tập đầu như một suất ra mắt độc quyền toàn cầu tại liên hoan Annecy hồi đầu năm.

Diễn viên

Thẻ: , , , , ,

Thảo luận

Có 0 bình luận.