Diễn viên

John Huston, đạo diễn suốt đời quay những gì ông không thể ngừng theo đuổi

Penelope H. Fritz

Các bình oxy xuất hiện trên trường quay của The Dead và không ai giả vờ rằng chúng ở đó vì lý do nào khác. John Huston cần chúng để thở. Ông đạo diễn từ xe lăn, với các ống chạy dọc sàn phim trường đến một máy phát điện di động, theo dõi diễn viên qua màn hình video vì bệnh khí thũng không cho phép ông đứng gần máy quay lâu hơn. Bộ phim là chuyển thể của truyện ngắn hoàn hảo nhất của James Joyce. Chủ đề: ký ức và những gì người sống nợ người chết. Huston không sống để xem buổi ra mắt.

Ông sinh năm 1906 tại Nevada, Missouri — một thị trấn nhỏ mà ông nội ông, một tay bài chuyên nghiệp, nghe nói đã thắng được trong một ván poker. Câu chuyện có thể là hư cấu, nhưng nó mang phẩm chất của điều Huston sẽ chọn làm sự thật. Ông là một đứa trẻ ốm yếu, được chữa trị vì các vấn đề tim và thận, nằm trên giường ở Arizona nhiều tháng trong khi cơ thể quyết định muốn làm gì. Điều mà nó quyết định là một lượng hoạt động phi thường: vô địch boxing hạng nhẹ nghiệp dư ở California năm mười lăm tuổi, học hội họa ở Paris, làm báo ở New York, một thời gian là thành viên danh dự của kỵ binh Mexico. Ông viết kịch bản trước khi đạo diễn bất kỳ thứ gì. Cha ông, Walter Huston, là một trong những diễn viên phụ đáng tin cậy nhất của Hollywood.

Phim đầu tay của ông, The Maltese Falcon (1941), ngay lập tức thiết lập khuôn mẫu sẽ định nghĩa những tác phẩm hay nhất của ông: những người đàn ông bị tổn hại về mặt đạo đức đang theo đuổi những đối tượng ham muốn qua một thế giới không có ý định khen thưởng họ. Chuyển thể từ tiểu thuyết của Dashiell Hammett và quay trong sáu tuần, bộ phim đã đưa Humphrey Bogart lên hàng ngôi sao.

The Treasure of the Sierra Madre, làm bảy năm sau ở Mexico, là bộ phim mà các nhà phê bình thường dẫn ra nhất khi muốn mô tả khả năng của Huston. Ông đặt cha Walter vào một vai phụ giúp ông giành Oscar Nam diễn viên phụ xuất sắc, trong khi John giành Oscar Đạo diễn xuất sắc và Kịch bản chuyển thể xuất sắc. Ba người nhà Huston rời buổi lễ với tượng vàng. Không có gia đình nào khác trong lịch sử Viện Hàn lâm đạt được hình học đó.

The Asphalt Jungle (1950) đã mã hóa phim cướp. The African Queen (1951) mang lại cho Bogart Oscar duy nhất của ông. The Misfits (1961) — bộ phim cuối cùng của cả Clark Gable lẫn Marilyn Monroe — trở thành bản ai điếu không cố ý cho một kiểu nam tính Mỹ đã lỗi thời trước khi quay phim bắt đầu.

Huston không nhất quán và hồ sơ không hỗ trợ phiên bản huyền thoại anh hùng nhất của ông. Ông đã làm The Bible năm 1966, một sản xuất 174 phút làm kiệt sức cả chủ đề lẫn khán giả. Annie năm 1982 là sự đầu hàng kinh tế vui vẻ. The Barbarian and the Geisha tệ đến mức John Wayne công khai tấn công nó. Khoảng cách giữa các kiệt tác là khoảng cách thực sự. Điều vẫn đúng là khi Huston thực sự tham gia — với tài liệu ông đã chọn, trong các địa điểm đòi hỏi điều gì đó từ ông — kết quả có chất lượng thuyết phục khó tạo ra. Fat City (1972), một bộ phim drama boxing mà hầu như không ai xem khi ra mắt, ngày nay được coi là một trong những tác phẩm cá nhân nhất của ông. Và bộ phim tài liệu năm 1946 của ông, Let There Be Light, ghi lại thiệt hại tâm lý của cựu chiến binh chiến tranh với sự trung thực trực diện, quá mạnh mẽ đến mức quân đội Mỹ đã cấm nó trong ba mươi lăm năm.

Ông có quốc tịch Ireland năm 1964, từ bỏ hộ chiếu Mỹ để định cư tại St Clerans, dinh thự Georgian mà ông đã mua và phục chế ở hạt Galway. Trong một thập kỷ ông là Chủ nài của Galway Blazers. Ông kết hôn năm lần. Ông cũng đóng vai Noah Cross trong Chinatown của Polanski — một trong những nhân vật phản diện vĩ đại của lịch sử điện ảnh.

The Man Who Would Be King (1975), với Sean Connery và Michael Caine, là bộ phim ông muốn làm trong nhiều thập kỷ. Prizzi’s Honor (1985) mang lại Oscar cho con gái Anjelica. The Dead, ra mắt vài tháng sau khi ông qua đời vào tháng 8 năm 1987, vừa là di chúc vừa là lý lẽ: rằng một số điều chỉ có thể hiểu được khi không còn thời gian để nhìn đi nơi khác.

Thảo luận

Có 0 bình luận.