Phim

Yasuda dốc tiền tiết kiệm làm A Samurai in Time và càn quét giải thưởng điện ảnh Nhật

Veronica Loop

Tiền đề là một trò đùa có lưỡi kiếm bên trong. Một samurai từ những ngày cuối của chế độ Mạc phủ đang giữa cuộc đấu thì bị sét đánh, và tỉnh dậy giữa phim trường một sản phẩm cổ trang thời nay, bị tưởng nhầm là diễn viên quần chúng. Anh không đọc nổi lịch quay lẫn không biết dùng máy bán hàng tự động, và điều duy nhất anh làm được, chém ngã một người bằng thanh kiếm thật, lại đúng là điều không đoàn phim nào cho anh làm thật. Thế là anh nhận công việc duy nhất mà kỹ năng duy nhất của mình đủ điều kiện. Anh khoác bộ phục trang lên và chết, một cách thuyết phục, hết cảnh này đến cảnh khác.

Nghề ấy có tên trong giới. Kirare-yaku là diễn viên mà toàn bộ nghệ thuật là chết cho đẹp để ngôi sao trông oai khi chiến thắng, và A Samurai in Time dựng phần hài của mình trên anh ta, tức là trên những con người mà một thể loại chẳng bao giờ buồn ghi tên. Đó là một bộ phim về lao động vô danh, và nó được làm đúng trong những điều kiện nó khắc họa: gần như không tiền, gần như không ê-kíp, một người gánh gần như mọi vị trí sau máy quay. Thành phẩm sống đúng như điều nó rao giảng.

YouTube video

Makiya Yamaguchi vào vai Kosaka Shinzaemon, và việc chọn diễn viên chính là luận điểm. Yamaguchi đã trải qua một sự nghiệp dài ở rìa phim của người khác trước khi vai này, bất chấp mọi dự đoán, trở thành vai chính đầu tiên của ông: một diễn viên ở hậu cảnh được trao tiền cảnh. Ông diễn người kiếm sĩ lạc thời một cách thẳng thớm, không một lần nháy mắt với khán giả, và chính sự từ chối diễn lố ấy khiến phần hài đứng vững thay vì sụp thành tiểu phẩm. Norimasa Fuke trong vai ngôi sao điện ảnh đương thời, và Yuno Sakura trong vai nữ trợ lý đạo diễn cưu mang gã samurai lạc lối, trao cho ông một thế giới hiện đại đầy bối rối để đối mặt.

Junichi Yasuda viết kịch bản, tự quay, dựng và đạo diễn bộ phim, và bỏ phần lớn tiền túi qua công ty của chính mình, Mirai Eiga-sha. Đó không phải một câu do bộ phận tiếp thị nghĩ ra; đó là mô hình sản xuất, và nó lý giải chất phim trên màn ảnh: sự kiên nhẫn của người tiêu tiền của mình và kỷ luật của người biết rằng không có ngân sách để quay lại. Nó hoàn toàn trái ngược với cách ngành công nghiệp Nhật quả quyết rằng một phim ăn khách phải được dựng nên như thế nào.

Thời điểm của luận điểm ấy có ý nghĩa. Jidaigeki, truyền thống phim cổ trang từng phủ kín truyền hình Nhật và các phim trường Kyoto nơi Toei dựng nên đế chế của mình, đã co lại thành một thị trường ngách, với những ê-kíp chuyên môn già đi và các phim trường ngoài trời cố định lặng tiếng. Yasuda quay phần lớn tại một trong những phim trường còn sót lại ấy, và động cơ của phim là khoảng cách giữa quan niệm danh dự của một samurai thật và cái chết dùng một lần, lặp đi lặp lại mà ngành công nghiệp hiện đại đòi hỏi ở anh. Trò đùa cứ đặc dần, một cách hiệu quả, đến khi gần chạm tới khúc bi ca.

Bài toán kinh tế là phần các nhà phát hành vẫn còn nhẩm tính. Làm với khoảng 26 triệu yên, bộ phim ra mắt trên một màn chiếu duy nhất và lan rộng ra ngoài chỉ nhờ truyền miệng cho đến khi thu về gần 1 tỷ yên, một bội số mà bất kỳ hãng phim nào chi gấp trăm lần cũng phải thèm muốn. Các giải thưởng đến sau khán giả, chứ không đi trước. Phim giành Phim hay nhất tại Japan Academy Film Prize, nơi cũng vinh danh khâu dựng phim; Phim hay nhất và Nam diễn viên chính xuất sắc tại Blue Ribbon; và Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc và Nam diễn viên chính xuất sắc tại giải điện ảnh Nikkan Sports. Hiếm khi các vinh dự dồn lại như thế quanh một bộ phim do chính đạo diễn đưa ra rạp.

Không điều nào trong số đó chứng minh mô hình sẽ lặp lại. Một bộ phim làm với 26 triệu yên mà thu về 1 tỷ là tấm vé số trúng, không phải bản thiết kế, và thành công của nó nợ một làn sóng mến mộ cụ thể, không thể lặp lại nhiều hơn là nợ bất kỳ công thức nào mà nhà sản xuất có thể đóng chai. Tình cảm nó dành cho jidaigeki không đảo ngược sự suy tàn thương mại của thể loại; nếu có, nó ghi lại điều đó. Và trong khâu sản xuất gấp ẩn một mất mát mà không lời khen nào hóa giải. Seizo Fukumoto, diễn viên bị chém ngã trước ống kính nhiều lần hơn gần như bất kỳ ai trong lịch sử nghề, đã được mời trước khi qua đời và được thay bằng Rantaro Mine, để lại một bộ phim về người chết cho ống kính mà thiếu đi người chính là cái nghề ấy. Khán giả không có cảm thức về jidaigeki có thể thấy một phần tình cảm ấy trôi qua mà không nắm bắt được.

Các diễn viên chính được ghi danh là Yamaguchi, Fuke, Sakura và Mine, người sau cùng trong vai chỉ đạo võ thuật dạy người mới cách ngã. Mirai Eiga-sha sản xuất và phát hành phim, thời lượng 131 phút.

A Samurai in Time ra mắt tại Nhật Bản ngày 17 tháng 8 năm 2024 và đến các rạp Hàn Quốc ngày 24 tháng 6 năm 2026, trong khi hành trình phát hành quốc tế tiếp tục qua các đối tác như Cineverse. Hiện chưa có lịch chiếu rạp nào được xác nhận tại Việt Nam. Vẫn còn đó câu hỏi liệu phép tính truyền miệng đã dựng nên nó ở quê nhà có sống sót khi vượt biên giới hay không. Nhưng nó vượt qua biên giới ấy sau khi đã làm được điều khó nhất mà một bộ phim độc lập có thể làm: khiến cả một ngành công nghiệp ước gì mình đã nghĩ ra điều đó trước.

Diễn viên

Thẻ: , , , , ,

Thảo luận

Có 0 bình luận.