Nhà làm phim

Chuck Lorre: ‘vua sitcom’ Mỹ và đế chế hài kịch không bao giờ tắt

Penelope H. Fritz
Chuck Lorre
Chuck Lorre
Photo: iDominick / CC BY-SA 2.0, via Wikimedia Commons
Sinh18 tháng 10, 1952
Plainview, New York
Nghề nghiệpNhà sáng tạo phim truyền hình, biên kịch và nhà sản xuất điều hành
Giải thưởngQuả cầu vàng · Hollywood Walk of Fame star · Television Academy Hall of Fame · Critics Choice · Emmy

Người đàn ông chịu trách nhiệm cho một số chương trình truyền hình được xem nhiều nhất trong lịch sử phát sóng của Mỹ kết thúc mỗi tập phim mình làm bằng một tấm thẻ vanity — một khối văn bản xuất hiện đúng một giây, gần như không đủ để đọc dòng đầu tiên trước khi màn hình cắt. Tấm thẻ đôi khi chứa một câu chuyện cười, đôi khi là lời phàn nàn về một ghi chú của mạng lưới, và đôi khi là một lời tường thuật thẳng thắn về chứng mất ngủ, lo âu, hoặc khó khăn khi biết mình thực sự tin gì. Chuck Lorre đã viết hàng nghìn tấm thẻ như vậy. Hầu như không khán giả nào đọc được nhiều hơn một vài tấm.

Sinh ra với tên Charles Michael Levine vào ngày 18 tháng 10 năm 1952, tại Plainview, New York, Lorre lớn lên trong vùng ngoại ô Long Island – nơi thường sinh ra những người hoặc là muốn rời đi càng nhanh càng tốt, hoặc là dành cả sự nghiệp để xây dựng hài kịch từ những áp lực gia đình mà họ biết từ bên trong. Anh đi đường vòng qua âm nhạc trước, theo học SUNY Potsdam hai năm trước khi bỏ học để đi lưu diễn với tư cách tay guitar. Con đường vòng ấy không hề lãng phí. Anh đang học cách giữ sự chú ý của khán giả bằng chất liệu phải hoạt động trong thời gian thực, trong một căn phòng, trước những người chưa quyết định có chú ý hay không.

Bước chuyển sang truyền hình đến từ một bài hát. “French Kissin’ in the USA,” đóng góp năm 1986 của anh cho album Rockbird của Debbie Harry, lọt vào top bốn mươi và mang lại cho anh chứng chỉ để bắt đầu gõ cửa các cánh cửa truyền hình. Đến cuối thập niên 1980, anh là biên kịch chính thức của Roseanne, hấp thụ ngữ pháp của hài kịch đa camera: nhịp điệu khán giả trực tiếp, sự nén đặc biệt mà bốn máy quay và một sàn trường quay đòi hỏi từ một nhà biên kịch. Hài kịch đa camera là một thể loại mà các nhà phê bình thường đánh giá thấp bởi vì nó trông quá cố định — hai hoặc ba bối cảnh, một chiếc ghế sofa, một căn bếp, một cánh cửa để gõ — chính xác là lý do tại sao phần viết phải gánh vác mọi thứ.

Các chương trình anh sáng tạo trong suốt thập niên 1990 — Grace Under Fire, Cybill, Dharma & Greg — đều thành công về mặt thương mại và được xây dựng xoay quanh một chuyên môn đặc biệt của Lorre: một nhân vật trung tâm khó kiểm soát và không đặc biệt muốn bị kiểm soát. Cybill mang về cho anh một Quả cầu Vàng. Dharma & Greg chạy năm mùa trên ABC. Mỗi chương trình, theo một nghĩa nào đó, là một nguyên mẫu: một động lực cộng tác khó khăn, một đấu trường gia đình biến thành hài kịch, một động cơ cảm xúc mà anh liên tục điều chỉnh.

Two and a Half Men, ra mắt trên CBS năm 2003, trở thành sitcom được xem nhiều nhất trên truyền hình Mỹ trong vòng hai mùa và giữ vị trí đó trong nhiều năm. Mười hai mùa, 262 tập, và một dấu ấn phát sóng lại cuối cùng đã tài trợ cho phần lớn những gì tiếp theo. Những người chỉ trích chương trình có lý: cách đối xử với phụ nữ thường hời hợt, và hài kịch của nó dựa trên giả định rằng khán giả muốn xác nhận những gì họ đã tin về đàn ông. Lorre chưa bao giờ thực sự phản bác lời buộc tội — những tấm thẻ vanity từ thời kỳ đó bao gồm một số câu tự vấn đầy than thở nhất trong sự nghiệp của anh — nhưng chương trình vẫn tiếp tục, và khán giả vẫn đến.

Việc sa thải Charlie Sheen năm 2011, trong một thời gian ngắn, đã trở thành sự kiện được bàn tán nhiều nhất trên truyền hình Mỹ. Sheen đã tiến hành một chiến dịch truyền thông kéo dài sáu tuần chống lại Lorre, đỉnh điểm là một chuyến lưu diễn toàn quốc. Lorre hầu như không nói gì công khai. Chương trình tiếp tục với Ashton Kutcher và chạy thêm bốn mùa nữa. Điều mà tập phim này hé lộ — và nhiều người quan sát đã bỏ lỡ vào thời điểm đó — là sự im lặng công khai của Lorre không phải là né tránh mà là phương pháp. Những tấm thẻ vanity từ thời kỳ đó là một trong những thứ tiết lộ nhiều nhất mà anh từng viết: những lời tường thuật về một người đang chứng kiến cuộc khủng hoảng nghề nghiệp của chính mình trở thành trò giải trí, và tự hỏi, với vẻ chân thành thực sự, liệu điều này có cấu thành một bài học hay chỉ là tiếng ồn. Một tiểu sử coi sự im lặng đó là sự mờ đục đã bỏ lỡ vấn đề. Sự mờ đục chính là vấn đề.

The Big Bang Theory, ra mắt năm 2007 và chạy trong mười hai mùa, đã tạo ra một trong những thỏa thuận phát sóng lại sinh lợi nhất trong lịch sử truyền hình. Các nhà phê bình cho rằng chân dung các nhà khoa học của nó trìu mến theo cách gần như trịch thượng — tiếng cười ghi sẵn bảo khán giả nghĩ gì về những người mà họ được cho là vừa thông thái vừa bất lực xã hội. Sự chỉ trích đó có cơ sở. Điều nó đánh giá thấp là trí tuệ cảm xúc của chương trình, đặc biệt là trong mạch truyện của Sheldon Cooper, người mà khó khăn trong việc kết nối với những người xung quanh đã trở nên thực sự cảm động qua mười hai mùa. Sợi dây đó cuối cùng đã sinh ra Young Sheldon, chạy từ 2017 đến 2024, và vào năm 2026 sản xuất Stuart Fails to Save the Universe trên HBO Max — một phim hành động hài khoa học viễn tưởng ra mắt vào tháng 7 năm 2026 và được gia hạn mùa thứ hai vào tháng sau đó.

Mom, chương trình anh sáng tạo năm 2013 và chạy đến năm 2021, đã làm ngạc nhiên những nhà phê bình từng gạch bỏ nhà máy Lorre sau Two and a Half Men. Hai người phụ nữ đang phục hồi — mẹ và con gái, do Anna Faris và Allison Janney thủ vai — cùng nhau vượt qua cơn nghiện. Ngữ pháp đa camera không thay đổi; chủ đề thì không. Đến những mùa sau, Mom đã sử dụng hài kịch như một vật chứa cho mất mát thực sự, nghiện ngập, và kết cấu của việc thất bại trong việc giữ gìn cuộc sống. Nhân vật Bonnie Plunkett của Allison Janney, có thể nói, đã trở thành một trong những nhân vật nữ hoàn chỉnh nhất trong hài kịch truyền hình phát sóng.

The Kominsky Method, chương trình anh sáng tạo cho Netflix năm 2018, là sự chuyển hướng có chủ đích. Michael Douglas và Alan Arkin trong một bộ phim hài nhỏ về già đi, diễn xuất và tình bạn muộn màng, không có bất kỳ cơ sở hạ tầng đa camera nào và không có khán giả trường quay. Nó đã giành Quả cầu Vàng cho Phim hài hay nhất năm 2019. Đó là thành công phê bình thực sự đầu tiên trong sự nghiệp của anh — loại thành công có nghĩa là anh không còn phải đặt trước tên mình bằng một lời xin lỗi cho những gì đã đến trước đó.

Tính đến tháng 9 năm 2026, Lorre đang điều hành ba tác phẩm cùng lúc. Stuart Fails to Save the Universe trên HBO Max đạt tỷ lệ tán thành 77 phần trăm khi ra mắt và được gia hạn mùa thứ hai vào tháng 8. Leanne, đồng sáng tạo với danh hài Leanne Morgan và nhà sản xuất Susan McMartin, xếp thứ tư về lượng người xem tại Mỹ trên Netflix trong tuần đầu tháng 9 năm 2026, mùa thứ hai. Georgie & Mandy’s First Marriage tiếp nối thương hiệu Big Bang trên CBS. Vào tháng 4 năm 2026, anh nhận được Giải thưởng Thành tựu trọn đời đầu tiên của Venice Family Clinic, ghi nhận hơn ba thập kỷ từ thiện chăm sóc sức khỏe, bao gồm Trung tâm Y tế Gia đình Robert Levine mà anh thành lập năm 2004 theo tên người cha quá cố. Anh dự kiến sẽ nhận Giải thưởng Thiên thần Sáng lập của Project Angel Food vào ngày 26 tháng 9 — vinh dự gắn liền với món quà lớn nhất trong lịch sử của tổ chức đó. Con gái anh, đạo diễn Nikki Lorre, sẽ trao giải.

Những tấm thẻ vanity vẫn tiếp tục xuất hiện. Mỗi mùa, mỗi tập, một khối văn bản lóe lên trong một giây ở cuối phần credit — quá nhanh để hầu hết khán giả bắt kịp, quá kiên trì để bỏ qua. Chúng là ghi chép của một người đã dành bốn thập kỷ để tạo ra giải trí mà người ta xem mà không suy nghĩ, và đã sử dụng một giây phát sóng đó, một cách nhất quán, để đảm bảo rằng một phần những gì anh nghĩ đã tìm được đường ra ngoài. Liệu Stuart Fails to Save the Universe có trở thành thương hiệu tiếp theo, liệu Leanne có chứng minh rằng khán giả phát trực tuyến muốn hài kịch đa camera nhiều như Lorre tin hay không — những câu hỏi đó vẫn còn bỏ ngỏ. Anh, tính đến thời điểm viết bài này, vẫn đang ở trong phòng để hỏi chúng.

Phim truyền hình tiêu biểu

Thẻ: , , , , ,

Thảo luận

Có 0 bình luận.