Diễn viên

Hwang Jung-min: từ sân khấu Daehangno đến 37 triệu khán giả Hàn Quốc

Penelope H. Fritz
Hwang Jung-min
Hwang Jung-min
Photo: KIYOUNG KIM / CC BY 2.0, via Wikimedia Commons
Sinh1 tháng 9, 1970
South Gyeongsang Province, South Korea
Nghề nghiệpDiễn viên
Nổi tiếng vớiTiếng Than, Ngọt Đắng Cuộc Đời, Thế Giới Mới
Giải thưởng2 Blue Dragon Film · 2 Grand Bell · Baeksang Arts

Khi Na Hong-jin cần tìm diễn viên chính cho Hope — bộ phim đầu tiên của anh sau chín năm, một dự án khoa học viễn tưởng quốc tế với Michael FassbenderAlicia Vikander — ông đã chọn Hwang Jung-min. Đây không phải lựa chọn hiển nhiên nhất cho một dự án có tầm phủ sóng quốc tế như vậy. Hwang chưa bao giờ là kiểu diễn viên chinh phục khán giả ngay lập tức chỉ bằng ngoại hình. Chính điều đó là điều ngành điện ảnh Hàn Quốc đã nói với anh khi anh còn hai mươi tuổi, những ngày anh lăn lộn ở các nhà hát trong khu phố Daehangno.

Sinh năm 1970 tại tỉnh Gyeongsang Nam, Hwang lên Seoul học nghệ thuật sân khấu tại Học viện Nghệ thuật Seoul. Một buổi biểu diễn nhạc kịch Peter Pan xem hồi trung học đã quyết định con đường trước khi anh tự ý thức được. Những năm đầu là sân khấu: Line 1, Jesus Christ Superstar, Cats — một nền tảng thực sự và đòi hỏi cao, xa rời các phim trường điện ảnh.

Bước ngoặt là Waikiki Brothers (2001), một bộ phim đường trường bình dị về một ban nhạc cover đang tan rã, cần đúng thứ kết hợp giữa nỗi buồn chức năng và hài hước không cố ý mà Hwang có. Bộ phim tìm được khán giả nhỏ nhưng trung thành và cho anh chỗ đứng đầu tiên. Em Là Số Phận Của Tôi (2005) là bước đột phá với hệ quả rộng hơn: một bộ phim tình cảm mang về cho anh giải Blue Dragon đầu tiên cho Diễn viên nam xuất sắc nhất.

Những gì xảy ra tiếp theo vượt ngoài logic nghề nghiệp thông thường. New World (2013) — một cảnh sát bìa mật hóa thành tội phạm hơn cả tội phạm thật — cho anh giải Blue Dragon thứ hai. Ode to My Father (2014), thiên sử thi thế hệ về lịch sử Hàn Quốc, thu hút hơn 14 triệu khán giả và hai giải Grand Bell cho Diễn viên nam xuất sắc nhất. Năm 2015, Veteran thu hút 13,4 triệu người. Bốn bộ phim, hai năm, khoảng 37 triệu khán giả. Ngành điện ảnh đã nhầm một cách cụ thể và đo lường được.

Rủi ro là có thật. Veteran đã tạo ra nhân vật thám tử Seo Do-cheol đủ ăn khách để biến nhượng quyền thương mại thành con đường dễ đi nhất. Hwang chọn hướng khác: The Wailing (2016), do Na Hong-jin đạo diễn, là phim kinh dị về căn bệnh bí ẩn tàn phá một làng miền núi, và diễn xuất của Hwang là người cha hoảng loạn trước điều không thể lý giải đòi hỏi một thứ hoàn toàn khác với những vai bom tấn. Giới phê bình ghi nhận tầm vóc; phòng vé thì chùng hơn thường lệ. Anh chọn bộ phim đó. The Spy Gone North (2018), phim gián điệp thời Chiến tranh Lạnh, mang về giải Grand Bell thứ ba.

Các tác phẩm gần đây tiếp tục theo hai hướng cùng lúc. Narco-Saints (2022), miniseries giới hạn của Netflix về một ông trùm ma túy hoạt động từ Suriname, chứng minh rằng ngôn ngữ diễn xuất của anh hoạt động tốt trong định dạng tập. Tiếp đến là Seoul’s Spring (2023), phim hành động chính trị lịch sử về cuộc đảo chính năm 1979 — một trong những bộ phim Hàn Quốc có ý nghĩa thương mại nhất thập kỷ với 13,1 triệu khán giả và giải Baeksang cho Diễn viên nam xuất sắc nhất. Anh trở thành diễn viên thứ hai trong lịch sử điện ảnh Hàn Quốc có ba bộ phim riêng lẻ vượt mười triệu khán giả.

Hope, phim khoa học viễn tưởng của Na Hong-jin về một con hổ xuất hiện ở cảng DMZ, khởi chiếu tại Hàn Quốc ngày 15 tháng 7. Hwang đóng vai trưởng phòng cảng Hopo. Michael Fassbender, Alicia Vikander và Jung Ho-yeon cùng tham gia; Neon phân phối ở nước ngoài. Kết hôn với Kim Mi-hye từ năm 2005, anh bỏ rượu từ đầu những năm 50 tuổi — rượu ảnh hưởng đến trí nhớ và sự tập trung, và sự nghiệp còn phía trước cần cả hai thứ đó. Veteran 3 đang trong giai đoạn hậu kỳ. Hope ra mắt trong vài ngày nữa.

YouTube video

Phim tiêu biểu

Thẻ: , , , , ,

Thảo luận

Có 0 bình luận.