Âm nhạc

Shoegaze tưởng chỉ là một chú thích. Bedroom pop biến nó thành một thể loại nhạc

Alice Lange

Cái tên tự nó đã là một lời xúc phạm. Các nhà báo trong làng báo chí indie thời kỳ đầu đã gán nó cho một nhóm ban nhạc guitar mà các thành viên dành trọn buổi biểu diễn để nhìn chằm chằm xuống dưới, mắt dán vào bàn pedal dưới chân thay vì nhìn về phía khán giả. Shoegaze: một từ ngữ mang hàm ý miệt thị, và là một trong những nhãn thể loại bền bỉ nhất trong dòng nhạc indie.

Âm thanh mà những bàn pedal ấy tạo ra lại là một chuyện khác. Những bức tường dày đặc tiếng feedback guitar điện, được xử lý qua tremolo, chorus và reverb cho đến khi nốt nhạc gốc gần như không thể nhận ra. Giọng hát bị chôn vùi sâu trong bản phối đến mức chúng chỉ còn là kết cấu chứ không phải thông điệp. Một sự làm mờ có chủ đích ranh giới giữa giai điệu và tiếng ồn, vay mượn từ cả noise-rock và dream pop, thứ mà các nhạc sĩ và nhà phê bình gọi là sự cân bằng ngọt ngào và đáng sợ.

Đỉnh cao của trào lưu này đến từ một số ít hãng thu âm ở Anh, trong đó có Creation Records và 4AD, với các ban nhạc như My Bloody Valentine, Slowdive, Ride, Lush và Chapterhouse phát hành những đĩa nhạc trở thành điểm tham chiếu cho hầu hết mọi bối cảnh indie nặng về guitar sau này. Album Loveless của My Bloody Valentine đã thiết lập một chuẩn mực kỹ thuật cho việc xếp lớp guitar và sản xuất âm nhạc, nổi tiếng với ngân sách thu âm được cho là suýt khiến hãng đĩa phá sản, và vẫn nằm ngoài tầm với của các phòng thu tại gia trong nhiều năm.

Điều thay đổi chính là phòng thu. Các máy trạm âm thanh kỹ thuật số đã mang những kỹ thuật xếp lớp vốn định nghĩa shoegaze vào trong phòng ngủ. Một nhạc sĩ có thể xếp chồng năm phiên bản lệch tông nhẹ của cùng một đoạn guitar và nhấn chìm chúng trong reverb kỹ thuật số mà không cần đến những thiết bị rack mà các bản thu âm gốc đòi hỏi. Các ban nhạc hoạt động gần như hoàn toàn từ thiết lập tại gia nhận thấy logic ưu tiên kết cấu hơn sự rõ ràng của shoegaze tương thích với sự ấm áp của thu âm lo-fi tại nhà.

Kết quả trải rộng khắp các vùng địa lý. Tại Vancouver, các ban nhạc như Movieland đã hồi sinh kiến trúc của thể loại này theo cách riêng của họ, xây dựng những đĩa nhạc mang cùng một bầu không khí mờ ảo và độ dày đặc mà không cần gần gũi với các sân khấu London vốn đã phát minh ra nó. Các nghệ sĩ Anh như bdrmm đã kéo dài truyền thống shoegaze đến hiện tại, chứng minh rằng hình thức này vẫn tạo ra chất liệu mới chứ không chỉ là sự tái tạo hoài niệm. Khi các cộng đồng guitar khu vực cần một khuôn mẫu cho sự dày đặc cảm xúc, shoegaze luôn quay trở lại như một câu trả lời.

Việc nhãn thể loại này còn phù hợp hay không không còn quan trọng nữa. Điều đã lan tỏa từ những phòng tập thuở ban đầu ở London vào các phòng thu tại gia trên khắp thế giới là một ý tưởng cụ thể về những gì guitar có thể làm khi được xem như thời tiết chứ không phải là nhạc cụ giai điệu. Ý tưởng đó vẫn chưa biến mất.

Thẻ: , , , ,

Thảo luận

Có 0 bình luận.