Âm nhạc

K-pop chinh phục thế giới bằng cách dạy người hâm mộ cách trở thành fan

Alice Lange
Thêm chúng tôi trên Google

K-pop không phải là một thể loại âm nhạc như rock hay hip-hop. Nó là một hệ thống phân phối: một tập hợp các phương thức sản xuất, tiếp thị và tương tác với người hâm mộ có nguồn gốc từ Hàn Quốc và hiện đang hoạt động trên quy mô toàn cầu ở mọi châu lục.

Các công ty như HYBE, SM Entertainment, JYP Entertainment và YG Entertainment tuyển mộ các tài năng tiềm năng từ khi họ còn ở tuổi thiếu niên và đào tạo họ trong nhiều năm về thanh nhạc, vũ đạo, ngoại ngữ và phong cách sân khấu. Kết quả là một nhóm nhạc được trau chuốt với các vai trò rõ ràng: giọng ca chính, vũ công chính, rapper, visual. Mỗi vai trò đáp ứng một nhu cầu cụ thể của người hâm mộ.

Album không chỉ là âm nhạc. Một sản phẩm vật lý của K-pop thường bao gồm sách ảnh, bưu thiếp và thẻ photo (thẻ ngẫu nhiên có hình ảnh từng thành viên). Người hâm mộ mua nhiều bản không phải để nghe thêm nhạc mà để sưu tầm đủ bộ hoặc tìm thẻ của thành viên cụ thể. Điều này biến mỗi lần phát hành thành một sự kiện sưu tầm, và số lượt stream trở thành các chiến dịch phối hợp: cộng đồng người hâm mộ lên lịch các buổi nghe chung, phối hợp bình chọn trên các nền tảng âm nhạc như Melon và Bugs, và theo dõi vị trí bảng xếp hạng theo thời gian thực.

Cơ chế tương tác với người hâm mộ thường mang tính quy củ một cách bất thường. Các fandom như ARMY của BTS, Blinks của BLACKPINK và MYs của aespa vận hành với các kênh giao tiếp, lịch trình phối hợp và trách nhiệm chung. Khi một nhóm phát hành video âm nhạc, 24 giờ đầu tiên của lượt xem YouTube trở thành một sự kiện huy động. Các tài khoản fan phân phối hướng dẫn stream, hướng dẫn VPN cho người hâm mộ ở các khu vực bị giới hạn địa lý nội dung và cập nhật vị trí bảng xếp hạng trực tiếp.

YouTube trở thành kênh đầu tiên cho việc mở rộng quốc tế. Các video âm nhạc được xây dựng như những màn trình diễn thị giác độc lập, với vũ đạo nhiều lớp, nghệ thuật chỉ đạo theo concept và sự liên tục theo chủ đề xuyên suốt danh sách đĩa nhạc của nhóm, vượt qua rào cản ngôn ngữ. Những gì người không nói tiếng Hàn không thể theo dõi trong lời bài hát, họ có thể theo dõi qua vũ đạo hoặc mạch truyện thị giác. Điều này tạo ra một điểm khởi đầu cho người hâm mộ, những người sau đó học tiếng Hàn để tiếp cận nhiều nội dung hơn.

Các nền tảng streaming đã đẩy nhanh quá trình này. Khi các nhóm nhạc từ Seoul bắt đầu xuất hiện trên Global Top 50 của Spotify và các bảng xếp hạng của Apple Music, họ đã hé lộ điều mà ngành công nghiệp chưa tính đến đầy đủ: một khán giả toàn cầu đã ở đó, có tổ chức và sẵn sàng chi tiêu, nhưng vô hình trước các thước đo của phương Tây.

Phủ sóng của MCM về nội dung Hàn Quốc, từ phim lãng mạn Hàn Quốc tìm khán giả toàn cầu trên Netflix đến loạt phim lấy bối cảnh Seoul ra mắt quốc tế, phản ánh cách K-pop mở ra cánh cửa cho làn sóng Hallyu rộng lớn hơn: nội dung tiếng Hàn tìm được khán giả đến qua âm nhạc và ở lại qua điện ảnh và phim truyền hình. Một ca khúc như VIBE của Taeyang và Jimin (BTS) minh họa sự hợp tác K-pop liên thế hệ trong thực tế: một nghệ sĩ solo kỳ cựu và một thành viên BTS tạo ra nội dung lan tỏa đồng thời qua cả hai cộng đồng người hâm mộ.

Cơ sở hạ tầng mà K-pop xây dựng không chỉ dừng lại trong K-pop. Việc stream có tổ chức, bình chọn phối hợp và mối quan hệ ký sinh giữa thần tượng và người hâm mộ đã trở thành khuôn mẫu cho cách khán giả nhạc pop phương Tây tổ chức xung quanh nghệ sĩ của họ. Ngành công nghiệp âm nhạc Seoul không chỉ tiếp cận thế giới. Nó đã dạy thế giới cách làm fan.

Thẻ: , , , ,

Thêm chúng tôi trên Google

Thảo luận

Có 0 bình luận.